DIỄN ĐÀN SINH VIÊN K7BCQ - ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn của Lớp K7BCQ - Đại học Luật Hà Nội.
Mời bạn đăng nhập vào diễn đàn để có thể:
- Đóng góp thông tin cho diễn đàn ngày càng trở nên bổ ích hơn
- Tải miễn phí các tài liệu - đề cương Luật hoặc các file tiện ích khác.

DIỄN ĐÀN SINH VIÊN K7BCQ - ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Diễn đàn sinh viên Luật K7b CQ Đại học Luật Hà Nội
 
IndexIndex  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
CHÀO MỪNG BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN K7BCQ - RẤT MONG BẠN SẼ ĐÓNG GÓP NHỮNG THÔNG TIN BỔ ÍCH CHO DIỄN ĐÀN CHUNG
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Similar topics
Latest topics
» DIỄN ĐÀN SINH VIÊN LUẬT (NEW)
by tdung67 Wed Jun 01, 2016 10:13 am

» Chủ diễn đàn đã tốt nghiệp xong trường Luật.
by dongvth Sat May 28, 2016 2:20 pm

» Đã kích hoạt thành viên và cài đặt chế độ tự kích hoạt
by dongvth Fri Dec 18, 2015 11:32 am

» Tổng hợp hình phạt khi có án treo
by vuminhthu0311 Thu Mar 19, 2015 6:49 pm

» TỔNG HỢP TÀI LIỆU LUẬT MÔI TRƯỜNG
by UyUy Wed Dec 03, 2014 3:23 pm

» TỔNG HỢP TÀI LIỆU MÔN XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT
by dongvth Tue Jun 03, 2014 3:16 pm

» Đề cương Luật hình sự phần tội phạm
by Phan Huyền Wed May 07, 2014 5:38 pm

» TỔNG HỢP ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG + vbpl KỲ 4
by Phan Huyền Wed May 07, 2014 5:31 pm

» KIỂM TRA TÂM LÝ HỌC TƯ PHÁP
by khanhone Mon Apr 28, 2014 5:26 pm

» Chủ diễn đàn cho tất cả các tài liệu học Luật đã từng có
by huonglan Thu Apr 03, 2014 3:03 pm

» BÀI TẬP LUẬT SO SÁNH 2
by Đinh Thị Kim Cúc Sat Feb 22, 2014 11:56 am

» BÀI GIẢNG LUẬT TÀI CHÍNH (Cập nhật sau các ngày học)
by thanhvnhd Tue Sep 03, 2013 12:24 pm

» Thông tin liên hệ với chủ diễn đàn
by dongvth Fri Jun 14, 2013 4:44 pm

» Đề cương các môn Đại cương
by dongvth Fri Jun 14, 2013 4:42 pm

» Tổ chức của Quốc hội theo pháp luật hiện hành
by vuminhthu0311 Thu Mar 28, 2013 9:29 pm

» Phân tích các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính
by vuminhthu0311 Thu Mar 28, 2013 9:24 pm

» Tập hợp các văn bản của luật quốc tế
by hahahahn Sat Mar 16, 2013 11:38 am

» TÀI LIỆU LUẬT SO SÁNH
by kiendhl Fri Dec 14, 2012 9:37 am

» BÀI GIÁNG LUẬT LAO ĐỘNG
by vuminhthu0311 Wed Nov 07, 2012 6:23 am

» [Trò chơi]Tên kiếm hiệp và vũ khí bạn sử dụng là gì ?
by lamhuuan1977 Thu Sep 06, 2012 3:42 pm

» TÀI LIỆU VÀ ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
by hoangvandai1992hd Tue Aug 14, 2012 8:53 pm

» Thêm chút đề cương, tài liệu bài giảng của Luật đất đai
by zinco165 Tue Aug 14, 2012 7:45 am

» Đề cương và câu hỏi môn Tố tụng hình sự
by zinco165 Tue Aug 14, 2012 7:44 am

» BÀI TẬP CUỐI KỲ MÔN LUẬT HÌNH SỰ
by tuankim Thu Aug 02, 2012 1:24 am

» Người tiêu dùng xôn xao về tính năng chữa bệnh của Máy cứu ngải
by dongvth Sun Jul 01, 2012 9:36 am

» Mẫu bài tập Luật hình sự
by vuminhthu0311 Fri Jun 29, 2012 8:27 pm

» Tổng hợp các bài giảng
by vuminhthu0311 Fri Jun 29, 2012 5:43 am

» LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC & PL TG
by hugo84 Mon Jun 04, 2012 11:40 am

» CÁCH TẢI VỀ TÀI LIỆU TỪ DIỄN ĐÀN
by dongvth Tue May 01, 2012 4:54 pm

» tài liệu luật tố tụng dân sự
by dongvth Sat Apr 21, 2012 11:17 pm

» Giúp chữa bệnh với Máy cứu ngải
by aoloptoi Mon Apr 16, 2012 2:29 pm

» Tổng hợp tài liệu thi Luật hình sự
by dongvth Mon Mar 05, 2012 5:05 pm

» Ôn tập Luật dân sự
by dongvth Mon Mar 05, 2012 3:41 pm

» So sánh hệ thống Tòa Án Anh và Việt Nam
by dongvth Mon Mar 05, 2012 3:36 pm

» Ngân hàng câu hỏi Luật hành chính
by dongvth Mon Mar 05, 2012 3:30 pm

Statistics
Diễn Đàn hiện có 4137 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: quynhnguyen

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 649 in 174 subjects

Share | 
 

 Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
dongvth
Admin
Admin


Tổng số bài gửi : 233
Join date : 12/01/2010
Age : 30
Đến từ : Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành    Mon Mar 05, 2012 2:58 pm

Đề bài:

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH.





LỜI MỞ ĐẦU

Trong tổ chức bộ máy nhà nước, Hội đồng nhân dân là một hệ cơ quan có vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc thực thi quyền lực nhà nước tại địa phương. Hội đồng nhân dân do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương. Căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân và các quy định của pháp luật, Hội đồng nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn, góp phần hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân, đồng thời tìm ra mô hình tổ chức và hoạt động phù hợp nhất trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn hội nhập và phát triển tiến lên Chủ nghĩa xã hội.



BÀI LÀM



I/ TỔ CHỨC CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

1/ Cơ cấu của Hội đồng nhân dân.

Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001), Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ IV thông qua ngày 26/11/2003 thì Hội đồng nhân dân được tổ chức ở cả ba cấp (cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã). Trong đó, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện có Thường trực Hội đồng nhân dân và các ban của Hội đồng nhân dân. Riêng ở cấp xã chỉ có Thường trực Hội đồng nhân dân mà không có các ban như ở cấp tỉnh và cấp huyện.

Điều 5 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quy định:

1. Hội đồng nhân dân các cấp có Thường trực Hội đồng nhân dân.

2. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có các ban của Hội đồng nhân dân.

a/ Thường trực Hội đồng nhân dân.

Thường trực Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra trong số các đại biểu của mình tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Hội đồng nhân dân. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) gồm có Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ủy viên thường trực Hội đồng nhân dân; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã (xã, phường, thị trấn) chỉ có Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân.

Theo quy định tại Điều 52 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân: Thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Quy định này xuất phát từ lý do: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là hai cơ quan có chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, do Hội đồng nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân vì thế, để đảm bảo tính độc lập, khách quan trong hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với các hoạt động của Ủy ban nhân dân, tránh tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, pháp luật quy định thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên thường trực Hội đồng nhân dân phải được Thường trực Hội đồng nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn. Đối với các thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì phải do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Chủ tịch Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị hành chính không thể giữ chức vụ đó quá hai nhiệm kỳ liên tục.

Điều 52 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quy định:

Thường trực Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra.

Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh , cấp huyện gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên thường trực. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân.

Thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Ủy ban nhân dân cùng cấp…”.

b/ Các ban của Hội đồng nhân dân.

Các ban của Hội đồng nhân dân chỉ được thành lập ở hai cấp hành chính là cấp tỉnh và cấp huyện. Các ban của Hội đồng nhân dân chính là hình thức tham gia tập thể của các đại biểu Hội đồng nhân dân vào việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân và để giúp Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật. Các ban của Hội đồng nhân dân được thành lập theo nhu cầu công tác. Theo quy định tại điều 54 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, thì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thành lập ba ban: Ban kinh tế và ngân sách; Ban văn hóa – xã hội; Ban pháp chế; nơi có nhiều dân tộc thì có thể lập thêm một ban nữa là Ban dân tộc, phụ trách các vấn đề dân tộc.

Hội đồng nhân dân cấp huyện thành lập hai ban là Ban kinh tế - xã hội và Ban pháp chế.

Số lượng thành viên của mỗi ban do Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định. Thành viên trong các ban của Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định: Trưởng ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện không thể đồng thời là thủ trưởng các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp.

Trưởng ban và các thành viên khác của các ban của Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra tại kỳ họp đầu tiên của mỗi khóa Hội đồng nhân dân và được lựa chọn ra trong số các đại biểu của Hội đồng nhân dân, gồm những người có năng lực, kiến thức và chuyên môn phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi ban.


2/ Nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân.

Nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân quy định chung đối với cả ba cấp (cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã) là năm năm. Nhiệm kì của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Điều 6 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quy định:

“Nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân các cấp là năm năm, kể từ kì họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa đó đến kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa sau.

Nhiệm kỳ của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Khi hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân tiếp tục làm việc cho đến khi Hội đồng nhân dân khóa mới bầu ra Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân khóa mới.

Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở mỗi đơn vị hành chính không giữ chức vụ đó quá hai nhiệm kỳ liên tục.

3/ Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân.

Số lượng đại biểu Hội đông nhân dân mỗi cấp được bầu căn cứ theo quy định của Luật bầu cử Hội đồng nhân dân. Tùy từng địa phương, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân quy định cụ thể số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân ở từng cấp, trên cơ sở có tính đến các điều kiện về vị trí địa lý, dân cư, trình độ dân trí, các điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng. Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được bầu theo đơn vị bầu cử. Mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân bầu không quá 05 đại biểu.

Theo Điều 6 trong Nghị định số 19/2004/NĐ – CP ban hành ngày 10/01/2004 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân quy định:

“1. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân của mỗi đơn vị hành chính được tính trên cơ sở dân số của từng đơn vị theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

2.Căn cứ để tính số đại biểu Hội đồng nhân dân của mỗi địa phương là số liệu dân số có đến ngày 31 tháng 12 của năm trước năm tiến hành cuộc bầu cử do Cục Thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cung cấp.”

4/ Tổ chức Hội đồng nhân dân trong trường hợp sát nhập địa giới hành chính, chia đơn vị hành chính.

a/ Trường hợp sát nhập địa giới hành chính.

Trường hợp nhiều đơn vị hành chính sát nhập thành đơn vị hành chính mới thì Hội đồng nhân dân của các đơn vị hành chính cũ được nhập thành Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính mới và tiếp tục hoạt động cho tới hết nhiệm kỳ.

Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính mới bầu ra Chủ Tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và hoạt động cho đến hết nhiệm kỳ.

b/ Trường hợp chia tách đơn vị hành chính.

Trong trường hợp một đơn vị hành chính được chia thành nhiều đơn vị hành chính mới, các đại biểu Hội đồng nhân dân đã được bầu hoặc công tác ở địa hạt thuộc đơn vị hành chính mới nào thì hợp thành Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính đó và tiếp tục hoạt động cho đến hết nhiệm kỳ.

Trường hợp số đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị hành chính mới đủ hai phần ba so với số đại biểu được bầu theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thì Hội đồng nhân dân mới bầu ra Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và tiếp tục hoạt động cho tới hết nhiệm kỳ.

Trường hợp số đại biểu Hội đồng nhân dân mới không đủ theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thì tiến hành bầu cử bổ sung theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

II/ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN.

Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) chủ yếu thực hiện thông qua các hình thức:

- Hoạt động của tập thể Hội đồng nhân dân qua các kỳ họp thường kỳ hoặc bất thường;

- Hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân; các ban của Hội đồng nhân dân.

- Hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân.

1/ Kỳ họp của hội đồng nhân dân.

Kỳ họp của Hội đồng nhân dân là một trong những hình thức hoạt động chủ yếu của Hội đồng nhân dân. Mỗi hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân có vị trí nhất định, song chỉ có kỳ họp là nơi tập hợp toàn thể đại biểu Hội đồng nhân dân mới thể hiện đích thực vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, mới có thẩm quyền quyết định các vấn đề có liên quan đến địa phương được pháp luật quy định. Vì vậy, kỳ họp được coi là hình thức hoạt động chủ yếu của Hội đồng nhân dân. Thông qua kỳ họp, ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương được chuyển thành nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, quyền giám sát việc thực hiện nghị quyết và hoạt động của các cơ quan trực thuộc Hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước, tổ chức khác ở địa phương được thực hiện. Tại kỳ họp, tất cả các nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân được Hội đồng nhân thảo luận, quyết định và giải quyết bất cứ vấn đề gì thuộc thẩm quyền của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Ngoài ra những công việc quan trọng, Những công việc khác Hội đồng nhân dân có thể giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật. Có những việc pháp luật quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng nhân dân, đó là:

- Thẩm tra và xác nhận tư cách đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Quyết định các kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách của địa phương, phê chuẩn việc thực hiện kế hoạch và quyết toán ngân sách đó;

- Quyết định phương hướng, chủ trương lớn về phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, văn hóa – xã hội; về công tác an ninh quốc phòng;

- Xét báo cáo của Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, xét báo cáo giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân;

- Bầu và bãi nhiệm, miễn nhiệm các thành viên của Ủy ban nhân dân;

- Xét và quyết định những trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân xin từ chức, bãi miễn đại biểu hoặc đưa ra để cử tri bãi miễn;

- Thông qua đề án phân vạch địa giới các đơn vị hành chính ở địa phương và đề nghị cấp trên xem xét.

Để đảm bảo tính quyền lực của Hội đồng nhân dân, pháp luật quy định những vấn đề nêu trên chỉ do hội đồng nhân dân giải quyết tại các kỳ họp.

Hội đồng nhân dân các cấp họp thường lệ mỗi năm hai kỳ. Ngoài kỳ họp thường lệ, Hội đồng nhân dân tổ chức các kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp bất thường theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp yêu cầu.

Hội đồng nhân dân họp công khai. Khi cần thiết, Hội đồng nhân dân có thể họp kín theo đề nghị của Chủ tọa cuộc họp, hoặc đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Ngày họp, nơi họp và chương trình của kỳ họp Hội đồng nhân dân phải được thông báo cho nhân dân biết, chậm nhất là năm ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp.

Kỳ họp Hội đồng nhân dân được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân tham gia.

Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định triệu tập kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân chậm nhất là hai mươi ngày, kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp bất thường được triệu tập chậm nhất là mười ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.

Đại biểu quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân cấp trên đã được bầu ở địa phương, Chủ tịch Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam , người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương và đại diện cử tri được mời tham dự kỳ họp của Hội đồng nhân dân, được phát biểu ý kiến nhưng không được biểu quyết.

Tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Ủy ban nhân dân, các thành viên của Ủy ban nhân dân về bất cứ vấn đề gì thuộc thẩm quyền xem xét của Hội đồng nhân dân.

Kết quả của các kỳ họp là Hội đồng nhân dân thông qua các quyết định về các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải được quá nửa số đại biểu Hội đồng nhân dân tham gia phiên họp biểu quyết tán thành. Riêng đối với trường hợp bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân thì việc bãi nhiệm phải được ít nhất hai phần ba số tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.

Hội đồng nhân dân quyết định các công việc bằng biểu quyết lấy ý kiến của các đại biểu dưới các hình thức như giơ tay, bỏ phiếu kín hoặc bằng cách khác theo đề nghị của Chủ tọa phiên họp.

Nghị quyết và biên bản các phiên họp của Hội đồng nhân dân phải do Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân có hiệu lực ngay sau khi được thông qua hoặc sau khi được cơ quan nhà nước cấp trên phê chuẩn (đối với các vấn đề pháp luật quy định phải có sự phê chuẩn của các cơ quan nhà nước cấp trên trước khi thi hành). Ngoài ra, Hội đồng nhân dân còn ra nghị quyết để thông qua hoặc ban hành các văn bản pháp quy địa phương. Nghị quyết cần ghi rõ thời gian thi hành. Nghị quyết hết hiệu lực khi đã thực hiện xong hoặc bị Hội đồng nhân dân sửa đổi, hủy bỏ hoặc bị cấp trên đình chỉ hoặc bãi bỏ.

Chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày bế mạc kỳ họp, nghị quyết và văn bản của kỳ họp phải được gửi lên Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp.

a/ Kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân.

Kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Hội đồng nhân dân được triệu tập chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Hội đồng nhân dân do Chủ tịch Hội đồng nhân dân khóa trước triệu tập và chủ tọa cho đến khi Hội đồng nhân dân khóa mới bầu được Chủ tịch Hội đồng nhân dân khóa mới. Trường hợp khuyết Chủ tịch Hội đồng nhân dân thì Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân khóa trước triệu tập kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới. Nếu khuyết cả Chủ tịch và Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân thì Thường trực Hội đồng nhân dân cấp trên trực tiếp sẽ trực tiếp chỉ định triệu tập viên để triệu tập và chủ tọa kỳ họp cho đến khi Hội đồng nhân dân khóa mới bầu được Chủ tịch Hội đồng nhân dân khóa mới (Điều 49 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân).

Nghị quyết và biên bản các phiên họp của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp thứ nhất khi chưa bầu Chủ tịch hội đồng nhân dân khóa mới do Chủ tịch Hội đồng nhân dân khóa khóa trước ký chứng thực. Trong trường hợp Chủ tịch Hội đồng nhân dân vắng mặt thì Chủ tọa phiên họp ký chứng thực nghị quyết và các biên bản phiên họp của Hội đồng nhân dân. Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày bế mạc kỳ họp, nghị quyết và các biên bản của kỳ họp phải được gửi lên Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp trên để phê duyệt. Đối với nghị quyết và biên bản của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì phải gửi lên Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ để phê duyệt.

Tại phiên họp đầu tiên của kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa, Hội đồng nhân dân thực hiện các công việc sau:

- Thẩm tra tư cách đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban (các ban của Hội đồng nhân dân).

- Bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân.

- Bầu thư ký kỳ họp của Hội đồng nhân dân.

b/ Kỳ họp thường lệ.

Tại kỳ họp thường lệ Hội đồng nhân dân quyết định các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; quyết định dự toán và phân bổ ngân sách, phê duyệt ngân sách, quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương; điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật; quyết định các vấn đề khác thuộc nhiệm vụ quyền hạn của mình; xem xét báo cáo tình hình hoạt động của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp. Khi cần thiết, Hội đồng nhân dân xem báo cáo của các ngành, các cơ quan nhà nước hữu quan và ra nghị quyết các vấn đề Hội đồng nhân dân xem xét.

c/ Kỳ họp cuối năm.

Kỳ họp cuối năm cũng đồng thời là kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân. Tại kỳ họp cuối năm, Hội đồng nhân dân xem xét, thảo luận, báo cáo công tác trong năm của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân do các cơ quan này gửi báo công tác đến đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp giữa năm. Khi cần thiết thì Hội đồng nhân dân có thể xem xét, thảo luận các báo cáo công tác này.

d/ Kỳ họp cuối nhiệm kỳ.

Tại kỳ họp cuối nhiệm kỳ, Hội đồng nhân dân xem xét, thảo luận báo cáo công tác cả nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Hội đồng nhân dân có thể yêu cầu Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân báo cáo về những vấn đề khác khi xét thấy cần thiết. Báo cáo công tác của Ủy ban nhân dân phải được Thường trực Hội đồng nhân dân thẩm tra trước khi đưa ra trước Hội đồng nhân dân xem xét, thảo luận.

Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày bế mạc kỳ họp thì nghị quyết và các văn bản của Hội đồng nhân dân phải được Chủ tịch Hội đồng nhân dân gửi lên Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp trên.

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải được gửi đến các cơ quan có trách nhiệm để thực hiện.

2/ Hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân.

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ IV đã thong qua luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi). Theo đó thì Thường trực Hội đồng nhân dân đã được thành lập ở cả ba cấp (tỉnh, huyện, xã) và do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra. Hoạt động của thường trực Hội đồng nhân dân mỗi cấp hành chính được cụ thể hóa tại các quy định trong Luật tổ chức hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, nhưng tập trung thì Hội đồng nhân dân có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Triệu tập và Chủ tọa các kỳ họp của Hội đồng nhân dân; phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc chuẩn bị kỳ họp của Hội đồng nhân dân;

- Đôn đốc, kiểm tra Ủy ban nhân dân cùng cấp và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân;

- Giám sát việc thi hành pháp luật tai địa phương;

- Điều hòa, phối hợp hoạt động của các ban của Hội đồng nhân dân, xem xét kết quả giám sát của các ban của Hội đồng nhân dân khi cần thiết và báo cáo Hội đồng nhân dân tại các kỳ họp gần nhất; giữ mối liên hệ với các đại biểu Hội đồng nhân dân; tổng hợp các chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân để báo cáo Hội đồng nhân dân;

- Tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; tổng hợp ý kiến và nguyện vọng của nhân dân để báo cáo tại các kỳ họp của Hội đồng nhân dân;

- Phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Thường trực Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp;

- Trình Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Phối hợp với Ủy ban nhân dân quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân theo đề nghị của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;

- Báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân cùng cấp lên Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp mình lên Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ;

- Giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; mỗi năm hai lần báo cáo cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của Hội đồng nhân dân.

3/ Hoạt động của các ban của Hội đồng nhân dân.

Các ban của Hội đồng nhân dân chỉ được thành lập ở hai cấp hành chính là cấp huyện và cấp tỉnh, còn cấp xã không thành lập các ban của Hội đồng nhân dân. Theo luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 thì các ban của Hội đồng nhân dân có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

- Tham gia chuẩn bị các kỳ họp của Hội đồng nhân dân;

- Thẩm tra các báo cáo, đề án do Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân phân công;

- Giúp Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;

- Giúp Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công nhân trong việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Trong khi thi hành nhiệm vụ, các Ủy ban của Hội đồng nhân dân có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội tại địa phương cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết liên quan đến hoạt động giám sát.

Báo cáo kết quả hoạt động giám sát với Thường trực Hội đồng nhân dân khi cầ thiết.

4/ Hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân.

Hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân góp phần quan trọng vào việc xây dựng và thực hiện các chủ trương công tác của Hội đồng nhân dân. Hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân không chỉ hạn chế trong các kỳ họp, trong các cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân và các ban của Hội đồng nhân dân mà còn hoạt động trong các công việc khác với tư cách là đại biểu của nhân dân địa phương, nói lên tiếng nói của nhân dân địa phương. Theo luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi năm 2003) thì Đại biểu Hội đồng nhân dân có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

a/ Về nhiệm vụ của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Đại biểu hội đồng nhân dân chính là người đại diện cho nhân dân địa phương. Vì vậy, đại biểu Hội đồng nhân dân phải gương mẫu chấp hành pháp luật của nhà nước, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách pháp luật và tham gia vào việc quản lý nhà nước.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của Hội đồng nhân dân, tham gia thảo luận, biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân. Đại biểu nào không tham dự được kì họp phải có lý do và phải báo trước với Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Đại biểu nào không tham dự phiên họp của Hội đồng nhân dân phải có lý do và phải báo cáo với Chủ tọa phiên họp.

Đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri tại đơn vị bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, phải thu thập và phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và ít nhất mỗi năm một lần phải báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân; trả lời những thắc mắc và kiến nghị của cử tri.

Sau mỗi kỳ họp, đại biểu Hội đồng nhân dân phải báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó.

Đại biểu Hội đồng nhân dân khi nhận được khiếu nại, tố cáo của nhân dân thì phải có trách nhiệm nghiên cứu và kịp thời chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo biết.

b/ Quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tại các kỳ họp, phiên họp.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng các cơ quan cuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân chấm dứt những việc làm vi phạm pháp luật, chính sách của của Nhà nước trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của cán bộ, công chức, nhân viên cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước về việc thi hành pháp luật, chính sách của Nha nước và những vấn đề thuộc lợi ích chung.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền đề nghị Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người do Hội đồng nhân dân bầu ra.



KẾT LUẬN

Qua thực tiễn đã chứng minh, mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân hiện nay đang đi vào hoàn thiện và đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt ưu điểm, thì mô hình Hội đồng nhân dân hiện nay vẫn bộc lộ khá nhiều vấn đề nan giải, chẳng hạn như vấn đề về mối quan hệ giữa Chính phủ và Hội đồng nhân dân, tính hình thức và sự thiếu năng động trong hoạt động của Hội đồng nhân dân, … Chính vì vậy mà yêu cầu đặt ra là phải đổi mới Hội đồng nhân dân về cả cơ cấu, tổ chức nhằm tìm ra mô hình phù hợp nhất, góp phần tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, làm cho Hội đồng nhân dân thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương.



TÀI LIỆU THAM KHẢO





1/ Giáo trình môn luật hiến pháp Việt Nam – Đại học Luật Hà Nội,

năm 2008.

2/ GS. TSKH. Đào Trí Úc – Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. –Nxb Tư pháp, năm 2007.

3/ TS. Bùi Đức Kháng – Phân cấp quản lý trong hệ thống hành chính nhà nước của chính quyền địa phương. – Nxb Tư pháp, năm 2006.

4/ Tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Nxb Tư pháp - Tập 2 : Tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương.

5/ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001).

6/ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.

7/ Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003.



Websites:

www.chinhphu.vn

www.na.gov.vn

www.sinhvienluathn.com

www.forum.judaca.edu.vn

www.hochiminhcity.gov.vn

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.bibun.vn/
 
Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Cháo gà miền Bắc
» Từ câu hát "Ví Dầu"
» THEO DÒNG HOÀI NIỆM ĐV
» Sơn Tinh - Thuỷ Tinh thời hiện đại
» Mừng em vu quy

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN K7BCQ - ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI :: TÀI LIỆU THAM KHẢO :: LUẬT HÀNH CHÍNH-
Chuyển đến