DIỄN ĐÀN SINH VIÊN K7BCQ - ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn của Lớp K7BCQ - Đại học Luật Hà Nội.
Mời bạn đăng nhập vào diễn đàn để có thể:
- Đóng góp thông tin cho diễn đàn ngày càng trở nên bổ ích hơn
- Tải miễn phí các tài liệu - đề cương Luật hoặc các file tiện ích khác.

DIỄN ĐÀN SINH VIÊN K7BCQ - ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Diễn đàn sinh viên Luật K7b CQ Đại học Luật Hà Nội
 
IndexIndex  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
CHÀO MỪNG BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI DIỄN ĐÀN K7BCQ - RẤT MONG BẠN SẼ ĐÓNG GÓP NHỮNG THÔNG TIN BỔ ÍCH CHO DIỄN ĐÀN CHUNG
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Latest topics
» DIỄN ĐÀN SINH VIÊN LUẬT (NEW)
by tdung67 Wed Jun 01, 2016 10:13 am

» Chủ diễn đàn đã tốt nghiệp xong trường Luật.
by dongvth Sat May 28, 2016 2:20 pm

» Đã kích hoạt thành viên và cài đặt chế độ tự kích hoạt
by dongvth Fri Dec 18, 2015 11:32 am

» Tổng hợp hình phạt khi có án treo
by vuminhthu0311 Thu Mar 19, 2015 6:49 pm

» TỔNG HỢP TÀI LIỆU LUẬT MÔI TRƯỜNG
by UyUy Wed Dec 03, 2014 3:23 pm

» TỔNG HỢP TÀI LIỆU MÔN XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT
by dongvth Tue Jun 03, 2014 3:16 pm

» Đề cương Luật hình sự phần tội phạm
by Phan Huyền Wed May 07, 2014 5:38 pm

» TỔNG HỢP ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG + vbpl KỲ 4
by Phan Huyền Wed May 07, 2014 5:31 pm

» KIỂM TRA TÂM LÝ HỌC TƯ PHÁP
by khanhone Mon Apr 28, 2014 5:26 pm

» Chủ diễn đàn cho tất cả các tài liệu học Luật đã từng có
by huonglan Thu Apr 03, 2014 3:03 pm

» BÀI TẬP LUẬT SO SÁNH 2
by Đinh Thị Kim Cúc Sat Feb 22, 2014 11:56 am

» BÀI GIẢNG LUẬT TÀI CHÍNH (Cập nhật sau các ngày học)
by thanhvnhd Tue Sep 03, 2013 12:24 pm

» Thông tin liên hệ với chủ diễn đàn
by dongvth Fri Jun 14, 2013 4:44 pm

» Đề cương các môn Đại cương
by dongvth Fri Jun 14, 2013 4:42 pm

» Tổ chức của Quốc hội theo pháp luật hiện hành
by vuminhthu0311 Thu Mar 28, 2013 9:29 pm

» Phân tích các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính
by vuminhthu0311 Thu Mar 28, 2013 9:24 pm

» Tập hợp các văn bản của luật quốc tế
by hahahahn Sat Mar 16, 2013 11:38 am

» TÀI LIỆU LUẬT SO SÁNH
by kiendhl Fri Dec 14, 2012 9:37 am

» BÀI GIÁNG LUẬT LAO ĐỘNG
by vuminhthu0311 Wed Nov 07, 2012 6:23 am

» [Trò chơi]Tên kiếm hiệp và vũ khí bạn sử dụng là gì ?
by lamhuuan1977 Thu Sep 06, 2012 3:42 pm

» TÀI LIỆU VÀ ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
by hoangvandai1992hd Tue Aug 14, 2012 8:53 pm

» Thêm chút đề cương, tài liệu bài giảng của Luật đất đai
by zinco165 Tue Aug 14, 2012 7:45 am

» Đề cương và câu hỏi môn Tố tụng hình sự
by zinco165 Tue Aug 14, 2012 7:44 am

» BÀI TẬP CUỐI KỲ MÔN LUẬT HÌNH SỰ
by tuankim Thu Aug 02, 2012 1:24 am

» Người tiêu dùng xôn xao về tính năng chữa bệnh của Máy cứu ngải
by dongvth Sun Jul 01, 2012 9:36 am

» Mẫu bài tập Luật hình sự
by vuminhthu0311 Fri Jun 29, 2012 8:27 pm

» Tổng hợp các bài giảng
by vuminhthu0311 Fri Jun 29, 2012 5:43 am

» LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC & PL TG
by hugo84 Mon Jun 04, 2012 11:40 am

» CÁCH TẢI VỀ TÀI LIỆU TỪ DIỄN ĐÀN
by dongvth Tue May 01, 2012 4:54 pm

» tài liệu luật tố tụng dân sự
by dongvth Sat Apr 21, 2012 11:17 pm

» Giúp chữa bệnh với Máy cứu ngải
by aoloptoi Mon Apr 16, 2012 2:29 pm

» Tổng hợp tài liệu thi Luật hình sự
by dongvth Mon Mar 05, 2012 5:05 pm

» Ôn tập Luật dân sự
by dongvth Mon Mar 05, 2012 3:41 pm

» So sánh hệ thống Tòa Án Anh và Việt Nam
by dongvth Mon Mar 05, 2012 3:36 pm

» Ngân hàng câu hỏi Luật hành chính
by dongvth Mon Mar 05, 2012 3:30 pm

Statistics
Diễn Đàn hiện có 4137 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: quynhnguyen

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 649 in 174 subjects

Share | 
 

 bài tập Luật Hình sự 2

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
dongvth
Admin
Admin


Tổng số bài gửi : 233
Join date : 12/01/2010
Age : 30
Đến từ : Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: bài tập Luật Hình sự 2   Mon Mar 05, 2012 2:53 pm

Đề bài:



K và D cùng là những người mới chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp giật tài sản trở về địa phương được 5 tháng nhưng không chịu lao động và cùng là hang xóm của M. Khi đi qua nhà M, thấy chiếc xe máy để bên hè còn cả chìa khóa xe nên chúng đã nảy sinh ý định chiếm đoạt (lúc này cả nhà M đi vắng). K đứng ngoài ngõ canh gác, còn D vào nhà M lấy xe. Khi D dắt chiếc xe máy ra đến giữa sân thì bất ngờ bà N (vợ ông M) về nhà, bà N hỏi D: “Sao chú lại lấy xe máy của nhà tôi?”. D nói: “Tôi đã nói với ông M là cho tôi mượn đi có tí việc”. Bà N tưởng thật nên đã để D dắt xe ra ngõ. Lúc này ông M đi chơi về gặp D đang chuẩn bị nổ máy đã giữ xe lại, D xuống xe và nói: “Bà N vừa cho tôi mượn”. Ông M gọi bà N để hỏi xem có đúng là bà N cho D mượn không, thì bất ngờ D dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào, đồng thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân phải của ông M và D bỏ chạy về phía cuối làng. Còn K trước đó đứng chờ ở phía đầu ngõ, sau khi ra hiệu cho D biết là có ông M đang về và đã bỏ chạy khi thấy ông M giữ xe máy cùng với D. Ba ngày sau K và D bị bắt.

Trị giá chiếc xe máy 25 triệu đồng. Kết quả giám định thương tích cùng đầu ông M tỷ lệ 32%, thương tích ở chân phải 5%. Tổng tỷ lệ thương tích là 37%.

a/ Hãy định tội danh cho hành vi phạm tội của D và K, phân tích rõ cơ sở lý luận cho việc định tội?

b/ Theo dữ kiện bài tập đã nêu có xảy ra vụ đồng phạm không?

c/ Xác định những tình tiết tăng nặng có trong bài tập.

d/ Hình phạt cao nhất có thể áp dụng đối với D và K là là bao nhiêu năm tù?





Nhóm: 3 – E2

Lớp: KT32E

Khoa: Pháp luật kinh tế







Bài làm

Vấn đề 1: Hãy định tội danh cho hành vi phạm tội của D và K, phân tích cơ sở pháp lý?

Theo dữ liệu của đề bài đưa ra ta nhận định:

- D phạm vào tội trộm cắp tài sản và cố ý gây thương tích.

- K phạm vào tội trộm cắp tài sản.

* Đối với tội trộm cắp tài sản:

- Trước hết tội trộm cắp tài sản của D và K là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ và thuộc vào trường hợp có các tình tiết sau:

+ Giá trị tài sản chỉ ở khung 1 của tội trộm cắp, tức là tài sản trộm cắp có giá trị trên 500 nghìn đồng và dưới 50 triệu đồng. Theo bài thì tài sản mà D, K trộm cắp ở đây là chiếc xe máy của ông bà M, N có giá trị 25 triệu đồng. Thể hiện ở hành vi lén lút chiếm đoạt khi chiếc xe máy của ông M, khi ông M sơ ý để chiếc xe đó bên hè mà vẫn để chìa khóe trên xe. Như vậy về mặt đối tượng tác động của tội phạm trộm cắp đã thỏa mãn vì là tài sản có chủ.

+ Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích: D và K mới chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp giật tài sản và chưa được xóa án tích.

+ Hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy của D, K là hành vi lén lút chiếm đoạt lợi dụng lúc gia đình ông M đi vắng mà chiếc xe còn cả khóa. Và khi có gia đình ông bà M, N về thì để chiếm đoạt cho được chiếc xe và che dấu tội phạm của mình thì D lại có hành động xảo quyệt để thực hiện đó là hành vi lừa dối chủ tài sản, thể hiện ở hành động nói dối đối với bà N “tôi đã nói với ông M là cho tôi mượn đi có việc” và khi ông M đi chơi về gặp D tiếp tục lừa dối “Bà N cho tôi mượn” với mục đích che dấu chủ chiếc xe.

- Mặt khách quan: K và D phạm tội trộm cắp tài sản khi thực hiện hành vi phạm tội cũng biết chiếc xe chiếm đoạt có đặc điểm là đã có chủ.

- Về mặt chủ quan: Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý vì mục đích vụ lợi.

* Đối với tội cố ý gây thương tích:

D không chỉ thực hiện tội trộm cắp tài sản mà D còn có hành vi “dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào, đồng thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân phải ông M và D bỏ chạy về phía cuối làng”. Như vậy hành vi của D ở đây có thể coi chính một trong những tình tiết định khung tặng nặng quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 138 là hành vi hành hung để tẩu thoát. Tuy nhiên, do tổng tỷ lệ thương tật của ông M lên đến 37%, do vậy trong trường hợp này hành vi của D sẽ bị xét xử về tội cố ý gây thương tích quy định tại Điều 104. Vì dựa trên nguyên tắc chung của pháp luật đó là trong trường hợp phạm nhiều tội thì một hành vi chỉ có thể là tình tiết tăng nặng trong một tội phạm, khi tình tiết đó đã được sử dụng để xét xử cho một tội phạm khác rồi thì không được phép dụng chính tình tiết đó để làm căn cứ tham gia vào việc định một tội khác. Như vậy ở đây, D ngoài phạm tội trộm cắp còn phạm tội cố ý gây thương tích.

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của nguời khác dưới dạng thương tích hoặc gây tổn thương khác.

Để kết luận về việc D phạm thêm tội cố ý gây thương tích này chúng ta phụ thuộc vào các dấu hiệu sau:

- Về mặt khách quan:

+ Hành vi khách quan: đó là những hành vi có khả năng gây thương tích hoặc gây tổn thương khác làm tổn hại đến sức khỏe của con người . Ở đây D đã có hành động “Bất ngờ D dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào, đồng thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân phải của ông M “. Hành động đó đã thỏa mãn là hành vi xô đẩy và dùng chiếc xe máy để ngăn cản nhằm mục đích tẩu thoát. Tức là thông qua công cụ phương tiện để ngăn cản việc cản trở của ông M.

+ Hậu quả của tội phạm:

D đã đẩy ông M vào cạnh tường rào và kết quả giám định thương tích vùng đầu ông M với tỷ lệ 32% đồng thời cùng với hành động chiếc xe máy đổ đè lên chân phải của ông M gây lên thương tích ở chân là 5 %. Tổng tỷ lệ thương tích là 37% . Như vậy với tỷ lệ thương tích là 37% hậu quả thương tích này do chính D gây ra. Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thương tích đó là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

- Về mặt chủ quan: Lỗi của D là lỗi cố ý ,ở đây D đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, D mong hoặc có thể là chấp nhận hậu quả thương tích đó xảy ra.

- Về mặt chủ thể: D là người có năng lực trách nhiệm hình sự và chắc chắn là đủ độ tuổi luật định vì họ mới bị xử lý về tội cướp giât tài sản.

Như vậy dựa vào những căn cứ pháp lý trên chúng ta có thể kết luận rằng : D phạm tội trộm cắp tài sản và tội cố ý gây thương tích; còn K phạm tội trộm cắp tài sản.

Vấn đề 2: Theo các dữ kiện bài tập đã nêu có xảy ra vụ đồng phạm không?

Với những tình tiết cụ thể trong tình huống này có thể khẳng định K và D có đồng phạm với nhau.

Theo khoản 1 điều 20 BLHS 1999, đồng phạm là trường hợp có 2 người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm. Đây là hình thức phạm tội đặc biệt, thể hiện quy mô và tính chất nguy hiểm hơn của tội phạm như tinh vi hơn, xảo quyệt hơn, táo bạo và liều lĩnh hơn so với trường hợp phạm tội riêng lẻ.

Trong trường hợp này, D và K là đồng phạm vì họ đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của đồng phạm.

1/. Những dấu hiệu về mặt khách quan.

- Thứ nhất, đồng phạm đòi hỏi phải có ít nhất 2 người và 2 người này phải có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm. Đó là điều kiện có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

+ Số lượng người phạm tội là 2 người, K và D.

+ Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: K và D cùng là những người vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp giật tài sản trở về địa phương được 5 tháng. Tại thời điểm bắt đầu chấp hành bản án trước đây về tội cướp giật tài sản, K và D đã là những người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (từ đủ 16 tuổi trở lên) thì đương nhiên trong trường hợp phạm tội mới này cả 2 đều đạt độ tuổi luật định và là những người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

- Thứ hai, họ phải cùng thực hiện tội phạm, có nghĩa là người đồng phạm phải tham gia vào tội phạm với 1 trong 4 hành vi: hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm và hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm. Khi tiến hành hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe máy nhà ông M, K đứng ngoài ngõ canh gác còn D vào nhà M lấy xe. Như vậy:

+ D là người thực hành, tức là người trực tiếp thực hiện tội phạm bằng hành vi cụ thể của mình: D vào nhà M lấy xe máy ra, bất ngờ gặp bà N là vợ ông M về thì D nói dối là đã hỏi mượn ông M rồi, đến khi gặp ông M thì D lại nói dối là đã hỏi bà N để mượn xe.

+ K là người giúp sức cho D thực hiện tội phạm. Bằng hành vi của mình K đã tạo ra điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc thực hiện tội trộm cắp tài sản của D. Việc K đứng ngoài ngõ canh gác sẽ giúp D yên tâm vào nhà M lấy chiếc xe mà không phải lo lắng gì, nếu có người đến hoặc bị phát hiện thì đã có K ở ngoài báo hiệu cho D biết.

Tuy nhiên, D và K chỉ đồng phạm thực hiện tội trộm cắp tài sản. Trong vụ việc này, D đã có hành vi vượt quá và hành vi này đã cấu thành một tội độc lập khác: khi ông M gặp D đang chuẩn bị nổ máy đi đã giữ xe lại, D xuống xe và nói: “bà N cho tôi mượn”. Ông M gọi bà N xem có đúng bà N cho D mượn không thì bất ngờ D dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào đồng thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân phải ông M và D bỏ chạy về phía cuối làng. Theo giám định, tổng thương tích mà D gây ra cho ông M là 37%. Hành vi của D đã cấu thành tội cố ý gây thương tích. Đây là hành vi vượt ra ngoài ý định chung ban đầu của K và D bởi vì mục đích ban đầu của họ chỉ là chiếm đoạt được chiếc xe và K sau khi ra hiệu cho D biết có ông M đang về và đã bỏ chạy khi thấy ông M giữ xe máy cùng với D. Việc D gây ra thương tích cho ông M, K hoàn toàn không biết vì lúc ấy K đã bỏ chạy đi rồi. K và D không cùng nhau thực hiện tội cố ý gây thương tích cho ông M mà chỉ riêng D thực hiện nên K không đồng phạm cùng D trong tội này.

2/. Dấu hiệu về mặt chủ quan.

Trong vụ đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý. Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác.

- Về mặt lí trí: mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. K và D là những người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nên hoàn toàn có thể nhận thức được rằng hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật. Hơn nữa, cả 2 vừa chấp hành xong bản án về tội cướp giật tài sản, đã được giáo dục cải tạo thì càng hiểu rõ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà cả 2 đang cùng nhau thực hiện. Vì K và D cùng nhau thực hiện việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của M, tức là mỗi người đều biết người còn lại cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. K và D cũng thấy trước được hậu quả từ hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện đó là làm ông M mất đi chiếc xe.

- Về ý chí: K và D cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hậu quả phát sinh. Vì thế, đã có sự phân công rõ ràng giữa 2 người: K đứng ngoài ngõ canh gác còn D vào trong lấy xe ra. Việc phân công này nhằm mục đích là có thể lấy được cái xe dễ dàng, chót lọt.

Đối với hành vi cố ý gây thương tích do D thực hiện, K hoàn toàn không biết có việc này xảy ra nên tất nhiên là K không mong muốn có hoạt động chung bởi vì K đã bỏ chạy trước khi D thực hiện hành vi ấy. Do đó, K và D không thỏa mãn dấu hiệu về mặt chủ quan của đồng phạm trong tội cố ý gây thương tích.

Tóm lại, K và D đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản, không đồng phạm trong tội cố ý gây thương tích. Tội cố ý gây thương tích do một mình D thực hiện nên D phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về tội này.

Vấn đề 3: Xác định những tình tiết tăng nặng theo dữ kiện có trong bài tập.

Theo như đã phân tích tại vấn đề 1 thì D sẽ bị xử lý hình sự về hai tội danh là tội trộm cắp tài sản (Điều 138) và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104). Còn K sẽ bị xử lý hình sự về tội trộm cắp tài sản (Điều 138)

Khoản 2 Điều 48 quy định: “Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”. Có nghĩa là nếu một tình tiết đã được dùng để định tội và định khung thì không được dùng đến tình tiết đó để làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho chính tội phạm đó nữa. Do vậy khi căn cứ vào Khoản 1 Điều 48 BLHS quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, áp dụng cho tình huống bài ra. Ta nhận thấy trong tình huống bài có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự sau:

1/ Tái phạm (điểm g Khoản 1).

2/ Có hành động xảo quyệt nhằm che dấu tội phạm ( điểm o Khoản 1).

* Tái phạm:

Khoản 1 điều 49 BLHS quy định: “Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý”.

Theo như dữ kiện bài đưa ra thì K và D cùng là người mới chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp giật tài sản trở về địa phương được 5 tháng thì lại phạm tội mới. Như vậy cả D và K đều chưa đủ điều kiện để được xóa án tích theo như quy định tại Điều 64 BLHS (Đương nhiên được xóa án tích). Dựa vào Điều 64, thì một người bị kết án được xóa án tích chỉ khi thỏa mãn hai điều kiện: qua một thời gian nhất định kể từ ngày chấp hành xong bản án và trong khoảng thời gian đó, người này không phạm tội mới. Đối với trường hợp của D, K thì để có thể được xóa án tích cho tội cướp giật tài sản mà trước đó họ đã chịu án thì phải mất 3 năm kể từ khi họ ra tù. Tuy nhiên, nhưng mới được 5 tháng sau khi ra tù, do không chịu lao động nên D, K lại phạm tội mới. Và tội phạm D, K cùng thực hiện đều xuất phát từ lỗi cố ý. Như vậy, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” sẽ được áp dụng cho cả D và K.

* Hành động xảo quyệt nhằm che dấu tội phạm:

Theo giải thích trong từ điển Việt - Việt thì “Xảo quyệt” có nghĩa là dối trá, lừa lọc một cách khó lường, khéo léo để lừa đảo.

Sở dĩ, trong tình huống này ta áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “hành động xảo quyệt” (theo điểm o Khoản 1 Điều 48) chứ không áp dụng tình tiết “thủ đoạn xảo quyệt” (theo điểm m Khoản 1 Điều 48) bởi vì hai thuật ngữ “hành động” và “thủ đoạn” ở đây khác nhau về mức độ. Thủ đoạn thì có mức độ nguy hiểm cao hơn so với hành động. Thủ đoạn thì có tính liên tục suốt toàn bộ quá trình phạm tội, còn hành động chỉ có tính tạm thời và kết thúc ngay. Nhận thấy hành vi lừa dối của D chỉ có mục đích là lừa dối ông bà M, N để có thể che dấu cho hành vi trộm cắp của mình và hành vi lừa dối đó chỉ được thực hiện sau khi D gặp ông bà M, N. Mà liền trước đó hành vi chiếm đoạt tài sản của D là hành vi lén lút chiếm đoạt.

Như vậy, theo như các tình tiết bài đưa ra, thì D đã có hành vi lừa dối ông bà M, N và đã làm cho bà N tin vào lời lừa dối của D. Hơn thế nữa, ta nhận thấy thái độ của D khá là bình tĩnh khi lừa dối ông bà M, N.

Vấn đề 4: Hình phạt cao nhất có thể áp dụng đối với D và K là bao nhiêu năm tù?

Dựa trên cơ sở của các phân tích các yếu tố định tội và kết quả đã kết luận ở các phần trên thì ta nhận thấy D và K là đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản với khung hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 138, đồng thời thì D còn phạm thêm tội là cố ý gây thương tích với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.

Như vậy xét về từng tội riêng lẻ:

* Trộm cắp tài sản (khoản 1 Điều 138): Vì cả D và K đều có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cả hai đều có thể bị phạt với hình phạt cao nhất là ba năm tù.

* Tội cố ý gây thương tích của D: Tội phạm sẽ bị xử theo Khoản 2 Điều 104. D có thể bị xử phạt với mức phạt cao nhất là bảy năm.

Tổng hợp lại. ta thấy với hai tội danh đó thì D có thể bị lĩnh án cao nhất là: 3+7=10 năm tù. Còn hình phạt cao nhất đối với tội phạm mà K thực hiện là 3 năm tù.







TÀI LIỆU THAM KHẢO





1. Giáo trình luật hình sự Việt Nam tập 1, tập 2 – Đại học Luật Hà Nội.

2. Giáo trình luật hình sự Việt Nam – Khoa luật –ĐHQG Hà Nội.

3. Luật gia: Hoàng Hoa Sơn – Hỏi đáp về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh sự của con người – Nxb LĐ-XH, 2006.

4. Đinh Văn Quế - Tìm hiểu tội phạm trong BLHS năm 1999 – xuất bản năm 2001.

5. Đinh Văn Quế - Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (phần các tội phạm) – Tập I.

6. TSKH.PGS. Lê Khảm – Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự , 2005.

7. 550 thuật ngữ chủ yếu trong pháp luật hình sự Việt Nam , Xuất bản năm 1997.

8. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa - Tội phạm và cấu thành tội phạm, năm 2005.

9. Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.bibun.vn/
 
bài tập Luật Hình sự 2
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN K7BCQ - ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI :: TÀI LIỆU THAM KHẢO :: LUẬT HÌNH SỰ-
Chuyển đến